từ nơi tận cùng thế giới.
Tôi nghĩ là tôi đã nhìn thấy cậu ấy.
Buổi tối tháng hai ở Seoul lạnh lẽo, trời đêm vẫn phủ tầng mây xám đậm như báo trước đợt tuyết rơi rất gần. Trường Đại học đã vào kì nghỉ, thư viện chỉ lác đác vài bóng sinh viên và tầm chiều tối luôn là khoảng không gian lý tưởng cho người sợ đám đông như tôi.
Được giới thiệu làm thêm ở một văn phòng đặt vé máy bay cho người Việt với công việc chỉ là xuất vé, tôi cố giữ nhịp đọc sách đều đặn và dành thời gian ở thư viện sau giờ làm. Cổng trường rộng lớn chỉ đóng sau nửa đêm, đứng ngay trước cột đèn đỏ, tôi nhìn đám nghiên cứu sinh tụ tập bàn tán về một chỗ ăn đêm, những nhân viên công chức mẫn cán đi giày đen, mặc quần khakis và những chiếc áo khoác vải tweed sẫm màu, mắt hướng về cột đèn đi bộ, hơi thở phả ra làn khói mỏng tan biến chốc lát.
Đôi khi tôi nghĩ những người như thế, họ có một dây cót vô hình đằng sau, được vặn lên mỗi ngày để làm chuỗi việc giống nhau, sống chuỗi ngày giống nhau. Một ngày nào đó, dù có lên dây cót cả trăm chục lần, bánh răng trong họ cũng không nhúc nhích thêm được nữa, và họ sẽ nằm xuống, nhắm mắt, mở mắt, và tự hỏi họ đã làm gì được gì, đã mất gì trong suốt thời gian qua.
Đèn đi bộ chuyển xanh. Dây cót hoạt động. Cờ roẹt, cờ roẹt. Mọi người hối hả bước. Tôi nhìn đồng hồ. Hai phút nữa. Tôi không vội. Hai phút nữa đoàn tàu đêm sẽ chạy qua. Như mọi ngày, như mọi lần, trên cầu vượt cao nghêu nổi bật giữa trời song song với tuyến đường chính ấy. Thi thoảng tôi nhìn thấy có bóng người trong những ô cửa sáng đi xuyên vào màn đêm, thi thoảng chỉ là ánh đèn đường phản lại vào thanh sắt lấp loáng trên đường ray vô tận. Những người từ phía bên kia đường, bước lại phía tôi, rẽ sang bên phải không do dự, nơi có bến bus đang chạy chuyến cuối cùng về phía Tây Bắc thành phố. Xe bus trờ tới, người lên, người xuống.
Vẫn có vẻ vội vã và mệt mỏi như thế. Những chiếc xe bus, mang màu sắc tươi sáng, báo bến bằng mấy ngôn ngữ, bảng điện tử chỉ giờ, hệ thống thanh toán tự động, hay dán đầy poster của các sản phẩm với khuôn mặt ca sĩ diễn viên ăn khách, nhưng chỉ cần ngước lên, qua lớp kính xám trong suốt, vẫn sẽ là những ánh mắt mệt mỏi, khắc khoải, sự vội vã không cần thiết, đôi khi là vô cảm, cũng đôi khi là cáu kỉnh thừa thãi. Chiếc xe xanh lá lướt qua trước mặt tôi, và tôi không còn buồn ngước lên. Một phút nữa. Tôi đưa mắt nhìn quanh. Và rồi, tôi nhìn thấy cậu ấy.
Cậu ấy mặc một chiếc áo dạ xám, khăn quấn mỏng cũng không đủ che chiếc cổ dài, quần jeans đen ống đứng và đôi giày thể thao đế mềm nhạt màu. Cậu duỗi chân, hai tay nhét túi áo, không đeo headphones nghe nhạc, không lôi điện thoại ra bấm như bất kì thói quen của người trẻ nào khi chỉ có một mình ngoài đường. Cậu chỉ ngồi đó, không vẻ bận tâm, và đôi mắt hướng lên cao. Không phải nhìn bầu trời xám vô định.
Xịch xịch xịch xịch xịch xịch. Đoàn tàu lao qua, một chuỗi dài ánh cửa sổ sáng. Sẽ là trong mười ba giây cả thảy. Cậu nhìn đoàn tàu, mắt lấp lánh. Tôi thì nhìn cậu, tưởng chừng như thời gian đóng băng, còn tảng băng kí ức trong đầu tôi bắt đầu xuất hiện những khe nứt vỡ tạo âm thanh đầy lo ngại. Đầu tôi chỉ còn một nỗi băn khoăn to tướng.
Cậu ấy là An, có đúng không?
Không có lời đáp. Hoặc vẻ như câu trả lời là sự im lặng vô tận tôi không nghe thấy, mà sẽ là sự xác minh không cách nào khác ngoài việc tiến thêm một bước. Mười ba giây mà trong đầu tôi là cả cơn bão chạy qua. Người ta từng nói, trước khi chết đi, mọi kí ức sẽ hiện ra trong đầu bạn như một thước phim, nên hãy sống sao cho đấy là một cuộn phim đáng xem. Bỏ qua vế sau, và tôi cũng không biết người chết có đủ hay nhiều hơn mười ba giây để xem hết thước phim đời họ không, thì tôi nghĩ mình đang có một trải nghiệm tương tự. Nếu như hệ thống thị giác của người chỉ nhận được từ 10 đến 12 hình ảnh khác biệt mỗi giây, nếu như thập niên 1920 của phim ảnh được tiêu chuẩn với 24 khung hình mỗi giây, và ở thời điểm hiện tại là khoảng 72 đến 120 khung hình mỗi giây, thì tôi dám đoan chắc thứ trong đầu tôi diễn ra còn nhanh hơn thế. Và giống như đoàn tàu kia, không thể ngăn lại được.
Lần cuối cùng tôi nhìn thấy An, cũng là khi có đoàn tàu chạy qua.
Thật khó mà diễn tả được thứ tình cảm mà tôi và An đã có. Như thế nào nhỉ, tôi đọc ở đâu đó một người mình biết là thân thiết là ngay cả khi không nói gì, mình và người đó vẫn ở cạnh nhau được. Nghe có vẻ như một hệ quả của cả một quá trình gặp gỡ, làm quen, nói chuyện rồi ngay cả khi không có chuyện gì để nói, hay không nói được gì, người ta vẫn chấp nhận nhau. Nhưng với tôi, đấy lại là điều kiện tiên quyết. Tức là người đó phải chấp nhận sự im lặng của tôi trước, chấp nhận sự tồn tại không ồn ào, không hội thoại của tôi trước, thì tôi mới có thể mở lòng làm bạn với họ được. Như thế, bỏ qua được nhiều bước rườm rà, mặt khác, tôi là một trong số ít đứa trẻ, tôi tin là thế, nghĩ rằng sự im lặng có thể nghe thấy được. Tôi biết mình khác so với tụi bạn cùng lứa, bản thân cũng không hứng thú gì với điểm số và những quyển sách giáo khoa. Không có điểm chung và không thể nói chuyện, hai điểm quá đủ để có thể vẽ ra được quãng đường trung học của tôi.
Nhưng An là một trường hợp khác. Một dạng thức khác mà tôi đặt vào trong niềm tin cố định, là ngay cả khi những cậu bạn tốt bụng nhiệt tình hay hiền lành cũng không đủ kiên nhẫn để chờ đợi tới một ngày tôi mở miệng nói những điều tôi nghĩ, thì ở gốc rễ sâu thẳm của nỗi buồn dù mình lựa chọn độc thân hay không, cô đơn cũng sẽ chọn mình, tôi vẫn hy vọng có An sẽ đến và đặt vào tay tôi một cánh chong chóng, đưa tôi đến ngọn đồi mùa hè. Ảo tưởng là sự xâu chuỗi của giải pháp cho sự khắc kỉ bản thân và mong muốn tự tận đáy lòng, có thể kéo dài mãi không dứt nếu tách rời hoàn toàn khỏi hiện tại.
Tôi biết mình là một đứa con gái kì quặc, nghĩ quá nhiều và tưởng tượng viển vông, nên cũng không nghĩ có ngày lại nhận được giấy nhắn của một cậu bạn cùng lớp. Rồi một cậu bạn nữa. Tôi không biết bằng cách nào, và tôi nhìn sang An. An rụt rè, nhút nhát và dễ đỏ mặt khi tôi nhìn, nhưng tiếng chì đánh bóng trong giờ vẽ hay lúc cậu lật những trang sách một cách cẩn trọng khác hẳn với kiểu đối xử đồ vật thô bạo của lũ con trai cùng lớp khiến tôi cảm thấy dễ chịu và gần gũi hơn bao giờ hết.
Tôi không trả lời những mẩu giấy về cuộc hẹn mà biết sẽ kết thúc không đi đến đâu. Nhưng chúng vẫn đến, và An thở dài. Tôi nghe rõ tiếng cậu buông một hơi trút ra ảm đạm, và thứ hiển hiện trong đầu tôi lúc đó, là phải ngưng tất cả lại.
“Cậu không cần phải làm thế nữa đâu”, tôi đã nói như vậy khi bàn tay tôi nắm lấy cổ tay cậu, cảm rõ nhịp mạch của người đối diện rung đập dưới ngón tay mình. Tệ thật, tôi nghĩ, mình đúng là một đứa cư xử không ra đâu. Đáng lẽ mình nên nói mọi thứ rõ ràng hơn. Và sự im lặng lại xâm chiếm, và tôi gục xuống bàn, vẻ bình thản như mọi khi. Nhưng tôi muốn xin lỗi, cũng như trấn an, hay có vẻ như thế, tôi lại vươn tay ra, nắm lấy cổ tay An, và xoa nhẹ. Có lẽ tôi chỉ làm được có vậy. Trong thoáng chốc sau đó, tôi thấy An mỉm cười. Và gần như lần đầu tiên, tôi nghĩ có khi nào đây sẽ là người chấp nhận sự im lặng của mình.
Mùa đông năm đó, tôi bắt đầu gặp những triệu chứng bất ổn về hô hấp. Thân nhiệt tôi vốn thấp, lại ăn uống thất thường do bố mẹ hay đi làm về muộn. Đôi khi tôi ho mãi trong lớp, khiến thầy giáo ngưng lời giảng và cảm giác như tất cả ánh mắt dồn về phía mình, ái ngại hơn trách móc. Đôi khi hơi thở của tôi như bị bưng bít lại, khiến tôi bị đau mà mắt như nhòa cả đi. An nắm tay tôi, ấm áp và chắc chắn. Cậu hỏi, nhưng tôi không biết trả lời thế nào, “tớ vẫn uống thuốc, tớ ổn” tất cả tắc lại nơi cuống họng, và An vẫn giữ nguyên sự dịu dàng ấy, giữ tay tôi và không hỏi thêm gì cả, không nói thêm gì cả, không trách móc cũng như nhắc nhở.
Cuối tuần đi khám, tôi bị chẩn đoán thiếu hụt một lượng nhỏ serpin do gan sản xuất gây ảnh hưởng đến phổi, phải nghỉ ở nhà một thời gian. Đồng thời là nhận xét về chứng trầm cảm. Thật kì cục, tôi nghĩ, tôi không nghĩ mình lại đến mức thế. Ý tôi là, nếu đi vào bệnh viện thì thế nào cũng bị lôi ra bệnh cả thôi. Nhưng việc ở nhà là không thể tránh khỏi. Càng tốt, tôi có thể dành thời gian đọc sách và nghe nhạc nhiều hơn. Giờ nghĩ lại, có thể đấy là quãng thời gian hạnh phúc nhất trong những năm học dài đằng đẵng. Vì buổi chiều An sẽ đến, và điều đó tốt hơn bất kì việc tiêu tốn thời gian nào khác.
Tôi và An dù chỉ có hai người, cũng không quá thân mật như kiểu những cậu bạn trai luôn tìm cách gây ấn tượng như tôi vẫn bắt gặp trong phim ảnh hay chính cuộc sống đời thường sau này. Chúng tôi chỉ là hai đứa trẻ cấp hai, An ít nói và yên tĩnh, còn tôi, đấy, có thể xếp vào loại trầm cảm. Nhưng có lẽ chính vì thế, mà thứ tôi cảm giác rõ rệt nhất, chính là khung cảnh căn phòng gỗ hơi tối nhìn ra ngòai ban công nhỏ nơi có dòng sông phía xa và đoàn tàu chạy qua, bầu không gian lắng đọng nhưng hết sức dễ chịu ấy, hệt như một bức tranh yên bình vẫn còn được dùng để làm bìa đĩa vinyl cho dòng nhạc hoài niệm từ những thập niên trước. An không hỏi nhiều, cậu chăm chú vào những quyển sách, thảng hoặc đọc to đoạn đối thoại, độc thoại cậu không hiểu, với giọng trầm và ấm, hoặc ngẩng đầu lên, như để nghe thứ âm thanh chảy êm từ chiếc máy nghe đĩa cổ, hoặc đơn giản hơn, cậu chuyển ánh nhìn hiền lành lặng lẽ sang tôi, và mỉm cười nếu tôi bắt gặp. Bằng một cách nào đấy, tôi nghĩ chúng tôi đang nói chuyện với nhau, với ngôn từ nhảy múa trong không trung và rồi nằm im trong đáy mắt, ấm sực cả lòng.
Tôi không biết tình cảm tôi dành cho An, với cậu, có phải là cảm xúc dịu dàng không, vì tôi biết sẽ không thể nào diễn tả được đúng và đủ và chính xác những điều tôi nghĩ, và tôi chưa từng biết thích một ai đó sẽ là như thế nào. Tôi không thích nhiều thứ, khó mở lòng mình với nhiều người, nhưng nếu được, tôi muốn hình ảnh tôi đọng lại sẽ như cánh hoa anh đào rơi xuống dòng nước chảy mùa xuân.
Tôi muốn cho An thấy thật nhiều, những gì tôi nghe, những gì tôi nhìn, những gì khác biệt với cuộc sống học sinh bình thường. Tôi từng chỉ cho cậu ý nghĩa lời một bài hát Nhật xưa cũ mà bố mẹ tôi hồi yêu nhau đã rất thích nghe. Nhưng An không hiểu, và tôi bối rối không nghĩ ra cách nào khác. Tôi không còn nhiều thời gian, bố mẹ đã quyết định chuyển công tác nghiên cứu về miền trung, và ở gần biển cũng sẽ tốt cho sức khỏe của tôi hơn chốn đô thị bụi bặm này.
Lảng câu chuyện về mùa xuân, tôi thu mình ngồi bên cửa, nghĩ ngợi miên man. An đứng cạnh, nhìn ra đoàn tàu, tiếng ầm xa vọng lại lẫn với tiếng violin da diết từ phòng trong. Cậu ngồi xuống, tôi vẫn nhìn ra ngòai. Và rồi rất khẽ, An vươn tay ra, chạm tới ngón chân giữa của tôi, vuốt nhẹ: “Cậu buồn phải không Miên?”
Tôi nhìn xuống những ngón chân trắng hơi lạnh của mình, nơi An đang đặt bàn tay ấm phủ lên, xoa lại, hơi cắn nhẹ môi dưới và lắc đầu. Nhưng khi nhìn bóng xe đạp và lưng gầy của cậu đổ xuống đường bởi ánh đèn lên ban chiều, tôi bật khóc. Tôi không thích sự rời xa, càng không thích sự lìa tan, hay chia tay cuối ngày. Nhưng sẽ còn tệ hơn rất nhiều nếu hình ảnh rời xa đấy cũng dần dần nhạt nhòa đi, khi đó sẽ là rời xa mãi mãi. Có lẽ vì suy nghĩ như thế không dừng lại được, nên nước mắt cứ chảy ra mãi không thôi. Nhưng tôi còn chưa biết mình có thích cậu ấy không cơ mà.
Mọi thứ trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết khi An đến, và lắp vào từng thanh sắt cũ gỉ ban công những chong chóng màu xanh biển cậu tự làm. Tôi thích gió và chuyển động của mọi vật trong gió. Nhưng chưa bao giờ nói mình thích chong chóng, và tôi cũng không nhận ra mình thích chong chóng đến nhường nào cho đến lúc ấy. Cũng như đã không nhận ra tình cảm của An và mặc kệ cảm xúc của bản thân. Tôi bước đến và vòng tay ôm cậu. Ước gì tôi có thể nói gì đó không sáo rỗng, nhưng lúc đó tôi cần ôm cậu để in sự tồn tại của An trong lòng tôi một cách chắc chắn. Và tôi cũng không thể nói với An về sự rời đi của mình.
Tôi chỉ nói với cậu ngay trước hôm rời đi. Lần đầu tiên gọi địên cho An, lần đầu tiên yêu cầu An chạy đến lúc tối, và dĩ nhiên cậu đến, để rồi đứng bên dãy đường ray xe lửa, tôi chỉ biết ôm lấy cậu khóc và nói khi đoàn tàu chạy sát bên tai. An chắc là không nghe thấy, và tôi nói được lời chia tay. Những đoàn tàu sau tôi nhìn thấy, đều như mang một phần kí ức theo những điểm sáng chạy vào trong màn đêm xa thẳm. Vài năm sau, tôi quay lại, được biết An chuẩn bị đi du học và đã có bạn gái, tôi tự biết trong kí ức cậu, tôi cũng đã trở thành người ở trên bìa đĩa vinyl để khi nhắc nhớ người ta sẽ đem nghe lại, chứ không thể ở cạnh nhau được nữa. Tôi tự biết như vậy.
Nhưng đoàn tàu đêm nay đang chạy qua. Và An thì ở ngay trước mặt.
Mười ba giây trôi qua, và tôi càng tin chắc đây là cậu ấy. Thậm chí tôi gạt bỏ hết mọi suy nghĩ logic, mọi câu hỏi tình huống, bỏ qua cả phép loại trừ xác suất của việc hai người có thể gặp lại nhau sau gần 10 năm ở một thành phố mùa đông mà cái lạnh đã in vào tên đất nước thế này. Đoàn tàu chạy qua, cậu vẫn ngồi đấy, cười nhẹ, không có vẻ gì là lạnh cả. Rồi cậu xốc ba lô, đứng dậy. Cao quá, khuôn mặt dù vẫn thế, gò má hơi cao và gầy hơn trước, nhưng vẻ dịu dàng của cậu vẫn chìm trong đôi mắt quen thuộc.
Tôi bước về phía cậu, An cũng đi về phía này. Một tích tắc duy nhất cậu nhìn tôi. Và đi qua. Như tất cả người lạ hờ hững tôi từng nhìn và đi qua. Giọt nước mắt trào ra. Mũi tôi bắt đầu nghẹt lại. Đèn chuyển xanh, An tiếp tục bước qua đường. Là An, hay là tôi, đã bị gắn dây cót sau lưng, để rồi bước qua nhau không biết đến, hay dù biết đến cũng không đủ dũng cảm vươn ra và níu giữ lại, để rồi khi dây cót ngừng chạy, tôi sẽ nằm xuống nhắm mắt, mở mắt, nhìn trần nhà và tự hỏi chuyện gì xảy ra nếu tôi gọi tên cậu, chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi hét to tên cậu.
Và An, liệu cậu có còn một chút nhạy cảm nào để tự hỏi có khi nào cậu đi qua tôi mà không biết không. Mắt tôi nhòa cả đi, khiến tôi phải tiến đến chống tay vào cột đèn. Hít sâu, hít sâu, suy nghĩ nào Miên, đừng làm mọi thứ rối tung lên, có thể chỉ là một người thích ngắm tàu đêm như mình, và cộng hưởng với nỗi cô đơn quá đáng khiến mình tự tạo ảo giác dựng niềm tin người đó là An. Bình tĩnh nào Miên, không phải cậu ấy, tuyệt đối không phải cậu ấy. Đèn lại chuyển xanh. Tôi vuốt trán mình, để định hình mọi thứ, và lấy lại vẻ bình thản vốn có. Nhưng võng mạc, vẻ như muốn lừa tôi lần nữa. Trước mắt tôi, hình ảnh cậu ấy đang chạy lại thật gần. Rồi cậu ấy, đứng trước mặt tôi, thở dốc, như đã phải quay lại rất nhanh, như đã sợ tôi biến mất. Tôi rút bàn tay mình hở những ngón lạnh dưới lớp găng len, đặt lên áp má cậu ấy. Rất ấm và thực. Và An mỉm cười.
“Miên?”


Nhận xét
Đăng nhận xét